Môn thi
Ngữ văn
Thời gian
50 phút
Số câu
7
Kỳ thi
THPT QG
Xem trước câu hỏi
Ngữ liệu chung
Ngữ liệu chung
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
VU LAN
(Nguyễn Thị Hậu)
* **Từ sáng sớm anh chị đã rối rít chuẩn bị nhang đèn hoa trái lên cúng chùa cùng món tiền công đức khá lớn. Mẹ anh hỏi: “Chiều mấy giờ về để mẹ nấu cơm?”.
** – Mẹ đừng chờ. Chiều tụi con ăn cơm chay nhà chùa đãi.
Xe chạy. Mẹ đứng đó tần ngần. Lễ Vu lan mà mẹ vẫn một mình cơm nước như mọi ngày.
**(Nguyễn Thị Hậu, trích 101 truyện 100 chữ, *NXB Hội Nhà văn, 2012)
Đọc văn bản sau:
VU LAN
(Nguyễn Thị Hậu)
* **Từ sáng sớm anh chị đã rối rít chuẩn bị nhang đèn hoa trái lên cúng chùa cùng món tiền công đức khá lớn. Mẹ anh hỏi: “Chiều mấy giờ về để mẹ nấu cơm?”.
** – Mẹ đừng chờ. Chiều tụi con ăn cơm chay nhà chùa đãi.
Xe chạy. Mẹ đứng đó tần ngần. Lễ Vu lan mà mẹ vẫn một mình cơm nước như mọi ngày.
**(Nguyễn Thị Hậu, trích 101 truyện 100 chữ, *NXB Hội Nhà văn, 2012)
Câu 1Thông hiểu
Xem chi tiết →Nêu một ví dụ về ngôn ngữ nói được mô phỏng, tái tạo trong văn bản.
Nhập đáp án:
...
Câu 2Thông hiểu
Xem chi tiết →Vì sao “mẹ đứng đó tần ngần”?
Nhập đáp án:
...
Câu 3Thông hiểu
Xem chi tiết →Chỉ ra một ví dụ về tình huống truyện và nêu tác dụng của nó trong văn bản.
A
Tình huống: Ngày lễ Vu lan, các con chuẩn bị lễ lớn lên chùa báo hiếu nhưng để mẹ ở nhà một mình. Tác dụng: Làm nổi bật sự vô tâm, hời hợt của các con; gửi gắm thông điệp về cách báo hiếu chân thành.
B
Tình huống: Các con lên chùa ăn cơm cùng mẹ. Tác dụng: Thể hiện sự hiếu thảo của các con.
C
Tình huống: Mẹ tự lên chùa một mình. Tác dụng: Nhấn mạnh sự cô đơn của mẹ.
D
Tình huống: Không có tình huống đặc biệt. Tác dụng: Không có.
Câu 4Thông hiểu
Xem chi tiết →Nêu một ví dụ về ngôn ngữ nói được mô phỏng tái tạo trong văn bản.
A
Những câu thoại đời thường, gần gũi của nhân vật
B
Các từ ngữ Hán Việt trang trọng
C
Ngôn ngữ miêu tả thiên nhiên
D
Từ láy giàu hình ảnh
Câu 5Thông hiểu
Xem chi tiết →Anh/chị tâm đắc nhất với triết lí nhân sinh nào trong văn bản? Vì sao?
Nhập đáp án:
...
Câu 6Vận dụng
Xem chi tiết →II. PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích tác dụng của sự kết hợp giữa yếu tố hư cấu và phi hư cấu trong văn bản truyện kí sau:
Mấy ngày nay, chị Quyên không có giờ nghỉ. Nghe tin vợ anh Nguyễn Văn Trỗi tới dự Đại hội Phụ nữ miền Nam, đại biểu các khu, các tỉnh đều tới thăm hỏi. Chị Quyên đành hẹn tôi sau mỗi buổi họp tối ở hội trường về, chị sẽ tranh thủ kể từng đoạn, những lần cuối cùng chị đã gặp anh, đã được sống bên anh trong các trại giam và khám tử hình.
[...]
Vào khoảng chín giờ sáng, bỗng nhiên tôi thấy ập vào nhà bảy tám thằng cảnh sát, giải theo một người bị còng tay ra sau lưng. Thoạt đầu, tôi vẫn chưa tin là anh Trỗi. Nhưng vừa thoảng thấy tôi, anh nói ngay, nói to: “Quyên, anh bị bắt”.
Tôi đứng sững sờ nhìn anh đi thẳng tới trước mặt tôi. Chỉ có qua một đêm, thân hình anh thay đổi hẳn: bộ quần áo xanh của anh bê bết những bùn máu, gần như đổi sang màu khác, mặt anh hốc hác, bầm tím, đầu tóc rối tung. Chúng đẩy anh ngồi xuống giường. [...] Mấy tên cảnh sát đứng quanh giường anh bực tức nhìn nhau. Chúng động đậy chân tay muốn nổi khùng. Riêng tên chủ sự vẫn nhỏ nhẹ:
- Anh nên nghĩ đến người vợ trẻ và đẹp của anh. Anh nên thương cô ấy, đừng nên cưới người ta ít ngày, bây giờ bỏ mặc đời người ta dang dở.
-Từ năm ngày nay tôi bị bắt, các ông luôn luôn mang chuyện tôi mới cưới vợ ra để dụ dỗ. Các ông mang hình vợ chồng tôi chụp hôm cưới vào, tán tỉnh hạnh phúc này nọ, định làm cho tôi cam tâm vì vợ mà quên mất Tổ quốc. Các ông làm việc đó hoàn toàn không có kết quả đâu. Còn thằng Mỹ thì không ai có hạnh phúc nổi cả.
[...]
Tối nay chị Quyên không còn chăm chú kể chuyện với tôi được nữa. Chốc chốc chị lại nhìn đồng hồ. Ở gian nhà bên có tiếng một chị vừa gọi sang: “Quyên ơi, sắp đến giờ rồi đấy!”.
Ra cả mấy dãy nhà quanh đây đều biết đêm qua đài Hà Nội đã báo tin: nay buổi tám giờ rưỡi có truyền thanh toàn bản thuyết minh cuốn phim “Nguyễn Văn Trỗi sống mãi”.
Ngay từ phút đầu, mọi người đã cảm thấy như chính mình đang được xem cuốn phim đó, đang theo chân anh tới pháp trường. Tiếng người thuyết minh lúc tha thiết nghẹn ngào, lúc căm thù tột độ dẫn dắt người nghe qua dần từng cảnh: anh đang nói trước các nhà báo, anh dừng lại nhìn mảnh đất cuối cùng trồng mấy luống rau xanh, anh giật mảnh vải định che mắt anh,...
Chị U., một giáo sư, đã nói thêm một số tài liệu quanh cái chết của anh:
“Tới phút chót của đời anh, những người có mặt tại pháp trường đều rất kinh ngạc. Súng đã nổ rồi, một loạt đạn đã bắn vào ngực anh nhưng từ phía anh vẫn còn vang lên những tiếng hô: “Việt Nam muôn năm!”.
Chính một số nhà báo đã không cầm nổi nước mắt. Họ không thể tưởng tượng một người trước cái chết lại bình thản đến như vậy, lại yêu mến đất nước mình đến như vậy. Giật băng đen bịt mắt ra, anh nói: “Không, phải để tôi nhìn mảnh đất này, mảnh đất thân yêu của tôi”. Bao nhiêu năm bị bọn phản động đầu độc “Việt cộng vô Tổ quốc”, một số nhà báo lúc này đã nhìn ra sự thật: Không ai yêu Tổ quốc Việt Nam bằng người cộng sản, họ đã yêu đất nước quê hương cho tới phút cuối cùng của đời họ.”
(Trần Đình Vân, Sống như Anh*, NXB Giáo dục, 1978, tr.25-59)
Trần Đình Vân (1926–2024), nhà báo Thái Duy, tên thật là Trần Duy Tấn. Quê Bắc Giang.
Truyện kí “Sống như Anh” được NXB Văn học in lần đầu năm 1965, đã xuất bản hàng triệu bản ở nhiều nước trên thế giới. Truyện viết về cuộc đời ngắn ngủi và oanh liệt của liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi, được ghi lại qua lời kể của chị Phan Thị Quyên (vợ anh Trỗi).
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích tác dụng của sự kết hợp giữa yếu tố hư cấu và phi hư cấu trong văn bản truyện kí sau:
Mấy ngày nay, chị Quyên không có giờ nghỉ. Nghe tin vợ anh Nguyễn Văn Trỗi tới dự Đại hội Phụ nữ miền Nam, đại biểu các khu, các tỉnh đều tới thăm hỏi. Chị Quyên đành hẹn tôi sau mỗi buổi họp tối ở hội trường về, chị sẽ tranh thủ kể từng đoạn, những lần cuối cùng chị đã gặp anh, đã được sống bên anh trong các trại giam và khám tử hình.
[...]
Vào khoảng chín giờ sáng, bỗng nhiên tôi thấy ập vào nhà bảy tám thằng cảnh sát, giải theo một người bị còng tay ra sau lưng. Thoạt đầu, tôi vẫn chưa tin là anh Trỗi. Nhưng vừa thoảng thấy tôi, anh nói ngay, nói to: “Quyên, anh bị bắt”.
Tôi đứng sững sờ nhìn anh đi thẳng tới trước mặt tôi. Chỉ có qua một đêm, thân hình anh thay đổi hẳn: bộ quần áo xanh của anh bê bết những bùn máu, gần như đổi sang màu khác, mặt anh hốc hác, bầm tím, đầu tóc rối tung. Chúng đẩy anh ngồi xuống giường. [...] Mấy tên cảnh sát đứng quanh giường anh bực tức nhìn nhau. Chúng động đậy chân tay muốn nổi khùng. Riêng tên chủ sự vẫn nhỏ nhẹ:
- Anh nên nghĩ đến người vợ trẻ và đẹp của anh. Anh nên thương cô ấy, đừng nên cưới người ta ít ngày, bây giờ bỏ mặc đời người ta dang dở.
-Từ năm ngày nay tôi bị bắt, các ông luôn luôn mang chuyện tôi mới cưới vợ ra để dụ dỗ. Các ông mang hình vợ chồng tôi chụp hôm cưới vào, tán tỉnh hạnh phúc này nọ, định làm cho tôi cam tâm vì vợ mà quên mất Tổ quốc. Các ông làm việc đó hoàn toàn không có kết quả đâu. Còn thằng Mỹ thì không ai có hạnh phúc nổi cả.
[...]
Tối nay chị Quyên không còn chăm chú kể chuyện với tôi được nữa. Chốc chốc chị lại nhìn đồng hồ. Ở gian nhà bên có tiếng một chị vừa gọi sang: “Quyên ơi, sắp đến giờ rồi đấy!”.
Ra cả mấy dãy nhà quanh đây đều biết đêm qua đài Hà Nội đã báo tin: nay buổi tám giờ rưỡi có truyền thanh toàn bản thuyết minh cuốn phim “Nguyễn Văn Trỗi sống mãi”.
Ngay từ phút đầu, mọi người đã cảm thấy như chính mình đang được xem cuốn phim đó, đang theo chân anh tới pháp trường. Tiếng người thuyết minh lúc tha thiết nghẹn ngào, lúc căm thù tột độ dẫn dắt người nghe qua dần từng cảnh: anh đang nói trước các nhà báo, anh dừng lại nhìn mảnh đất cuối cùng trồng mấy luống rau xanh, anh giật mảnh vải định che mắt anh,...
Chị U., một giáo sư, đã nói thêm một số tài liệu quanh cái chết của anh:
“Tới phút chót của đời anh, những người có mặt tại pháp trường đều rất kinh ngạc. Súng đã nổ rồi, một loạt đạn đã bắn vào ngực anh nhưng từ phía anh vẫn còn vang lên những tiếng hô: “Việt Nam muôn năm!”.
Chính một số nhà báo đã không cầm nổi nước mắt. Họ không thể tưởng tượng một người trước cái chết lại bình thản đến như vậy, lại yêu mến đất nước mình đến như vậy. Giật băng đen bịt mắt ra, anh nói: “Không, phải để tôi nhìn mảnh đất này, mảnh đất thân yêu của tôi”. Bao nhiêu năm bị bọn phản động đầu độc “Việt cộng vô Tổ quốc”, một số nhà báo lúc này đã nhìn ra sự thật: Không ai yêu Tổ quốc Việt Nam bằng người cộng sản, họ đã yêu đất nước quê hương cho tới phút cuối cùng của đời họ.”
(Trần Đình Vân, Sống như Anh*, NXB Giáo dục, 1978, tr.25-59)
Trần Đình Vân (1926–2024), nhà báo Thái Duy, tên thật là Trần Duy Tấn. Quê Bắc Giang.
Truyện kí “Sống như Anh” được NXB Văn học in lần đầu năm 1965, đã xuất bản hàng triệu bản ở nhiều nước trên thế giới. Truyện viết về cuộc đời ngắn ngủi và oanh liệt của liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi, được ghi lại qua lời kể của chị Phan Thị Quyên (vợ anh Trỗi).
Nhập đáp án:
...
Câu 7Vận dụng
Xem chi tiết →Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trả lời câu hỏi: Người trẻ làm gì để chứng tỏ mình đang sống trong cuộc đời?
Nhập đáp án:
...
Hiển thị 7 trên 7 câu hỏi