Môn thi
Ngữ văn
Thời gian
50 phút
Số câu
11
Kỳ thi
Thi giữa kỳ 1
Xem trước câu hỏi
Ngữ liệu chung
Ngữ liệu chung
THƯƠNG VỢ - BÀI THƠ TRỮ TÌNH.
TRÀO PHÚNG ĐẠM SẮC DÂN GIAN CỦA TÚ XƯƠNG
Nguyễn Quốc Túy
Thương vợ (Trần Tế Xương)
Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng.
Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.
Một duyên, hai nợ, âu đành phận,
Năm nắng, mười mưa, dám quản công.
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc:
Có chồng hờ hững cũng như không!
[…]
Tình cảm thương vợ của Tú Xương trước hết được biểu hiện ở câu thơ đầu tức là ở hai câu để qua việc nhà thơ tạo dựng hình ảnh một bà vợ buôn bán, tần tảo nuôi chồng nuôi con.
Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng.
Hai câu mở đầu của bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật thường là hai câu vào để, thế mà hai câu đề của bài thơ này lại mang sắc thái của hai câu “thực”: cho bạn đọc thấy nỗi vất vả, khó nhọc của người vợ. Về thời gian nỗi vất vả đó là “quanh năm”, nghĩa là ngày nào, tháng nào cũng như vậy. Về không gian đó là địa điểm buôn bán: nơi mom sông. Bà Tú không có cửa hàng cửa hiệu, nơi phố phường sầm uất, bà Tú cũng không có nốt một cái lều, một gian hàng buôn bán ổn định ở cửa chợ, đình chợ. Bà buôn bán ở nơi có thế đất chênh vênh, hiểm trở.
Cũng ở ngay hai câu thơ đầu, nhà thơ đã nói được một cách cụ thể về công lao to lớn của bà Tú:
Nuôi đủ năm con với một chồng
Chúng ta chú ý các từ ngữ: nuôi đủ, năm, một. Như vậy là bà Tú đã nuôi đủ sáu người. Chúng ta thấy thấp thoáng nụ cười trào lộng hay đúng hơn là nụ cười tự trào của nhà thơ qua cách tính đếm của ông: Năm con với một chồng. Chồng cũng như con phải để vợ nuôi.
Ta biết Tú Xương là nho sĩ, là học trò chữ nho thời xưa đi thi và hỏng mãi, cuối cùng mới đậu được tú tài.
Nụ cười tự trào của Tú Xương, cách đánh giá mình sống nhờ vợ như lũ con: “Năm con với một chồng” có cái gì rất gần gũi với câu ca dân gian “Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm”. Biết đánh giá đúng thực trạng kém cỏi của mình, biết công lao vợ phải nuôi mình và cả năm đứa con, đó là nét đẹp của nhân cách Tú Xương được biểu hiện qua nụ cười tự trào của ông.
Đây là hai câu “thực” đã khắc họa thành công hình ảnh bà Tú vất vả ở chi tiết nghệ thuật hình ảnh “lặn lội thân cò”:
Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.
Nó gợi ta nhớ đến câu ca dao:
Con cò lặn lội bờ sông
Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non
Rồi các câu: “Con cò mà đi ăn đêm”, “cò dò bắt tép”… Cả câu thơ “Lặn lội thân cò khi quãng vắng” làm hiện lên trong trí tưởng tượng của ta là hình ảnh một bà Tú lặn lội đêm hôm buôn bán vật và để nuôi con, nuôi chồng giống như biểu tượng hình ảnh những con cò trong thơ cơ dân gian. Biểu tượng đó còn sâu đậm thêm khi ta đọc tiếp câu thơ “Eo sèo mặt nước buổi đò đông”, hình ảnh bà Tú “lặn lội” gắn với “quãng vắng”, gắn với “mặt nước” cũng giống như hình ảnh con cò trong thơ ca dân gian gắn với “ăn đêm”, “cò dò bắt tép”, “lặn lội bờ sông”. Tóm lại, ở hai câu thơ này, Tú Xương đã sử dụng một số “tín hiệu nghệ thuật” thơ để nói về nỗi vất vả, khó nhọc của người phụ nữ nông thôn trước đây.
Chính nhờ những phương tiện biểu hiện nghệ thuật của văn học dân gian nên ở một phương diện và mức độ nào đó, hình ảnh bà Tú ở hai câu thơ này cũng mang ý nghĩa tượng trưng cho người phụ nữ Việt Nam tần tảo, đảm đang.
Đây là hai câu “luận”, “bàn” về nỗi vất vả khó nhọc, đức tính chịu đựng của bà Tú. Nó cũng là lời thơ biểu hiện tâm trạng của bà Tú: chịu đựng, không phàn nàn, oán trách, kêu ca.
Một duyên, hai nợ, âu đành phận,
Năm nắng, mười mưa, dám quản công.
Bài thơ không phải là lời “tự bạch” của bản thân bà Tua mà là lời kể, lời tả bà Tú của Tú Xương. Nhưng tác giả Tú Xương sau khi tả, dựng lại hình ảnh của vợ đã chửi ai vậy? Nhà thơ chửi “thói đời ăn ở bạc”, “có chồng hờ hững cũng như không”, nghĩa là nhà thơ chửi thói đời vì cái thói đời ấy mà bà Tú có chồng cũng như không, chồng chẳng giúp được gì thậm chí bà còn phải nuôi chồng. Cái thói đời ấy là cái tập tục ngày xưa: vợ phải nuôi chồng ăn học. Cái thói đời ấy đã đưa lại cho bà Tú một ông chồng vô tích sự mà phải nuôi. Hóa ra Tú Xương tự chửi mình là vô tích sự. Ở đây, một lần nữa ta lại thấy thấp thoáng nụ cười tự trào của Tú Xương và thấy nhân cách cao đẹp của Tú Xương.
Bài thơ Thương vợ là một bài thơ trữ tình – trữ tình trào phúng – một phong cách nghệ thuật độc đáo mang đậm sắc thái dân gian.
(Giảng văn văn học Việt Nam – Nhiều tác giả. NXB Giáo Dục 1999)
TRÀO PHÚNG ĐẠM SẮC DÂN GIAN CỦA TÚ XƯƠNG
Nguyễn Quốc Túy
Thương vợ (Trần Tế Xương)
Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng.
Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.
Một duyên, hai nợ, âu đành phận,
Năm nắng, mười mưa, dám quản công.
Cha mẹ thói đời ăn ở bạc:
Có chồng hờ hững cũng như không!
[…]
Tình cảm thương vợ của Tú Xương trước hết được biểu hiện ở câu thơ đầu tức là ở hai câu để qua việc nhà thơ tạo dựng hình ảnh một bà vợ buôn bán, tần tảo nuôi chồng nuôi con.
Quanh năm buôn bán ở mom sông,
Nuôi đủ năm con với một chồng.
Hai câu mở đầu của bài thơ thất ngôn bát cú Đường luật thường là hai câu vào để, thế mà hai câu đề của bài thơ này lại mang sắc thái của hai câu “thực”: cho bạn đọc thấy nỗi vất vả, khó nhọc của người vợ. Về thời gian nỗi vất vả đó là “quanh năm”, nghĩa là ngày nào, tháng nào cũng như vậy. Về không gian đó là địa điểm buôn bán: nơi mom sông. Bà Tú không có cửa hàng cửa hiệu, nơi phố phường sầm uất, bà Tú cũng không có nốt một cái lều, một gian hàng buôn bán ổn định ở cửa chợ, đình chợ. Bà buôn bán ở nơi có thế đất chênh vênh, hiểm trở.
Cũng ở ngay hai câu thơ đầu, nhà thơ đã nói được một cách cụ thể về công lao to lớn của bà Tú:
Nuôi đủ năm con với một chồng
Chúng ta chú ý các từ ngữ: nuôi đủ, năm, một. Như vậy là bà Tú đã nuôi đủ sáu người. Chúng ta thấy thấp thoáng nụ cười trào lộng hay đúng hơn là nụ cười tự trào của nhà thơ qua cách tính đếm của ông: Năm con với một chồng. Chồng cũng như con phải để vợ nuôi.
Ta biết Tú Xương là nho sĩ, là học trò chữ nho thời xưa đi thi và hỏng mãi, cuối cùng mới đậu được tú tài.
Nụ cười tự trào của Tú Xương, cách đánh giá mình sống nhờ vợ như lũ con: “Năm con với một chồng” có cái gì rất gần gũi với câu ca dân gian “Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm”. Biết đánh giá đúng thực trạng kém cỏi của mình, biết công lao vợ phải nuôi mình và cả năm đứa con, đó là nét đẹp của nhân cách Tú Xương được biểu hiện qua nụ cười tự trào của ông.
Đây là hai câu “thực” đã khắc họa thành công hình ảnh bà Tú vất vả ở chi tiết nghệ thuật hình ảnh “lặn lội thân cò”:
Lặn lội thân cò khi quãng vắng,
Eo sèo mặt nước buổi đò đông.
Nó gợi ta nhớ đến câu ca dao:
Con cò lặn lội bờ sông
Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non
Rồi các câu: “Con cò mà đi ăn đêm”, “cò dò bắt tép”… Cả câu thơ “Lặn lội thân cò khi quãng vắng” làm hiện lên trong trí tưởng tượng của ta là hình ảnh một bà Tú lặn lội đêm hôm buôn bán vật và để nuôi con, nuôi chồng giống như biểu tượng hình ảnh những con cò trong thơ cơ dân gian. Biểu tượng đó còn sâu đậm thêm khi ta đọc tiếp câu thơ “Eo sèo mặt nước buổi đò đông”, hình ảnh bà Tú “lặn lội” gắn với “quãng vắng”, gắn với “mặt nước” cũng giống như hình ảnh con cò trong thơ ca dân gian gắn với “ăn đêm”, “cò dò bắt tép”, “lặn lội bờ sông”. Tóm lại, ở hai câu thơ này, Tú Xương đã sử dụng một số “tín hiệu nghệ thuật” thơ để nói về nỗi vất vả, khó nhọc của người phụ nữ nông thôn trước đây.
Chính nhờ những phương tiện biểu hiện nghệ thuật của văn học dân gian nên ở một phương diện và mức độ nào đó, hình ảnh bà Tú ở hai câu thơ này cũng mang ý nghĩa tượng trưng cho người phụ nữ Việt Nam tần tảo, đảm đang.
Đây là hai câu “luận”, “bàn” về nỗi vất vả khó nhọc, đức tính chịu đựng của bà Tú. Nó cũng là lời thơ biểu hiện tâm trạng của bà Tú: chịu đựng, không phàn nàn, oán trách, kêu ca.
Một duyên, hai nợ, âu đành phận,
Năm nắng, mười mưa, dám quản công.
Bài thơ không phải là lời “tự bạch” của bản thân bà Tua mà là lời kể, lời tả bà Tú của Tú Xương. Nhưng tác giả Tú Xương sau khi tả, dựng lại hình ảnh của vợ đã chửi ai vậy? Nhà thơ chửi “thói đời ăn ở bạc”, “có chồng hờ hững cũng như không”, nghĩa là nhà thơ chửi thói đời vì cái thói đời ấy mà bà Tú có chồng cũng như không, chồng chẳng giúp được gì thậm chí bà còn phải nuôi chồng. Cái thói đời ấy là cái tập tục ngày xưa: vợ phải nuôi chồng ăn học. Cái thói đời ấy đã đưa lại cho bà Tú một ông chồng vô tích sự mà phải nuôi. Hóa ra Tú Xương tự chửi mình là vô tích sự. Ở đây, một lần nữa ta lại thấy thấp thoáng nụ cười tự trào của Tú Xương và thấy nhân cách cao đẹp của Tú Xương.
Bài thơ Thương vợ là một bài thơ trữ tình – trữ tình trào phúng – một phong cách nghệ thuật độc đáo mang đậm sắc thái dân gian.
(Giảng văn văn học Việt Nam – Nhiều tác giả. NXB Giáo Dục 1999)
Câu 1Thông hiểu
Xem chi tiết →Văn bản trên thuộc thể loại/ tiểu loại nào? Chỉ ra dấu hiệu nhận biết.
A
Văn bản thơ, viết về người vợ
B
Văn bản nghị luận xã hội, bàn về lòng biết ơn với vợ
C
Văn bản nghị luận văn học, đánh giá giá trị tác phẩm thơ
D
Văn bản kí, ghi lại cuộc đời người vợ
Câu 2Thông hiểu
Xem chi tiết →**Nhan đề văn bản Thương vợ - Bài thơ trữ tình, trào phúng đậm sắc dân gian của Tú Xương cung cấp cho người đọc thông tin nào?**
A
Khẳng định Thương vợ là bài thơ trữ tình, trào phúng đậm sắc dân gian
B
Đối tượng, phạm vi, nội dung luận bàn của văn bản
C
Bàn về giá trị đặc sắc của bài thơ Thương vợ
D
Chủ đề của văn bản: trữ tình, trào phúng đậm sắc dân gian
Câu 3Thông hiểu
Xem chi tiết →Dòng nào nói lên cách triển khai nội dung các luận điểm của văn bản?
A
Các luận điểm tương ứng với cấu trúc bài thơ Đường luật
B
Mỗi luận điểm bàn về một khía cạnh của luận đề
C
Hai luận điểm bàn về chất trữ tình; hai luận điểm bàn về chất dân gian
D
Hai luận điểm bàn về chất trào phúng; hai luận điểm bàn về chất dân gian
Câu 4
Xem chi tiết →**Dòng nào không nói lên “chất” trữ tình ở 2 câu đề của bài thơ Thương vợ?**
A
Thấy nỗi vất vả, khó nhọc của người vợ
B
Nói được một cách cụ thể về công lao to lớn của bà Tú
C
Tạo dựng hình ảnh một bà vợ buôn bán, tần tảo nuôi chồng nuôi con
D
Hai câu đề của bài thơ này lại mang sắc thái của hai câu “thực”
Câu 5Thông hiểu
Xem chi tiết →Dẫn chứng trong văn bản được sử dụng theo cách nào?
A
Dùng dẫn chứng trực tiếp
B
Dùng dẫn chứng gián tiếp
C
Dùng dẫn chứng từ văn học dân gian
D
Dùng dẫn chứng từ thực tiễn
Câu 6Thông hiểu
Xem chi tiết → Luận điểm 2 (bạn về 2 câu thực của bài thơ) có vai trò như thế nào đối với luận đề của văn bản?
A
Làm sáng tỏ hình ảnh bà Tú vất vả lam lũ
B
Làm sáng tỏ sắc thái dân gian qua hình ảnh bà Tú
C
Làm sáng tỏ bà Tú giống con cò trong thơ ca dân gian
D
Làm sáng tỏ chất trữ tình - thương vợ của ông Tú
Câu 7Thông hiểu
Xem chi tiết →Dòng nào nói lên vai trò của luận điểm 4 đối với luận đề?
A
Là rõ sự thấp thoáng nụ cười tự trào của Tú Xương
B
Làm rõ con người vô tích sự - sản phẩm của thói đời xưa
C
Làm rõ nội dung trào phúng đậm sắc dân gian ở Thương vợ - Tú Xương
D
Làm rõ vì cái thói đời ấy mà bà Tú có chồng cũng như không
Câu 8Thông hiểu
Xem chi tiết →Dòng nào nói lên mục đích của văn bản Thương vợ?
A
Thương vợ là bài thơ đậm sắc dân gian
B
Thương vợ là bài thơ thấp thoáng nụ cười tự trào của Tú Xương
C
Thương vợ là bài thơ trữ tình, trào phúng đậm sắc dân gian
D
Thương vợ là nụ cười tự trào của Tú Xương
Câu 9Thông hiểu
Xem chi tiết →Xác định một số yếu tố miêu tả và cách sử dụng yếu tố miêu tả trong văn bản "Thương vợ - Bài thơ trữ tình, trào phúng đậm sắc dân gian của Tú Xương".
...
Câu 10Vận dụng
Xem chi tiết →Em có đồng ý với nhận định: Bài thơ Thương vợ (Trần Tế Xương) là một bài thơ trữ tình kết hợp với yếu tố trào phúng, mang phong cách nghệ thuật độc đáo đậm đà sắc thái dân gian không? Hãy viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) giải thích lí do.
...
Câu 11Vận dụng cao
Xem chi tiết →Viết bài văn nghị luận phân tích giá trị nội dung và nghệ thuật đặc sắc của bài thơ "Thương vợ" của Trần Tế Xương.
...
Hiển thị 11 trên 11 câu hỏi